Kết quả khảo sát sự hài lòng người bệnh năm 2017

        Xem với cỡ chữ    

Kết quả là cơ sở giúp các Bệnh viện trong việc lập Kế hoạch cải tiến chất lượng bệnh viện trong thời gian tới.

 

A. CƠ SỞ PHÁP LÝ

  • Căn cứ Quyết định số 4969/QĐ-BYT ngày 01/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế năm 2017;
  • Căn cứ Công văn số 1618/KCB-QLCL ngày 02/11/2017 của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh về việc hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế năm 2017.

B. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

1. Thiết kế nghiên cứu: Điều tra cắt ngang.

2. Các Bệnh viện được khảo sát

  • 21 Bệnh viện, bao gồm: 01 Bệnh viện đa khoa tuyến thành phố (BV Đà Nẵng); 07 Bệnh viện chuyên khoa tuyến thành phố (BV Phụ sản - Nhi; Ung bướu; Phổi; Da liễu; Mắt; Phục hồi chức năng; Y học cổ truyền); 07 Trung tâm y tế quận, huyện; 06 Bệnh viện tư nhân (Hoàn Mỹ; Gia đình; Tâm trí; Bình dân; Vĩnh Toàn; Phụ nữ).
  • Không khảo sát tại BV Tâm thần (do đối tượng khảo sát không phù hợp) và chưa khảo sát tịa BV Vinmec (do mới thành lập).

3. Thời gian khảo sát: Từ ngày 23-31/10/2017.

4. Địa điểm khảo sát: Tại 21 Bệnh viện được khảo sát.

5. Cỡ mẫu:

5.1. Đối với khảo sát người bệnh nội trú:

  • Đối với bệnh viện có lượng người bệnh nội trú trên 30 lượt/ngày, khảo sát ít nhất 30 người bệnh nội trú.
  • Đối với bệnh viện có lượng người bệnh nội trú dưới 30 lượt/ngày, khảo sát toàn bộ người bệnh nội trú đã và đang nằm điều trị từ 2 ngày trở lên trong 1 ngày.

5.2. Đối với khảo sát người bệnh ngoại trú:

Đối với bệnh viện có trên 300 lượt khám trong ngày, khảo sát ít nhất 30 người bệnh ngoại trú trong đợt kiểm tra.

Trong trường hợp do khó khăn, hạn chế về thời gian, nhân lực, kỹ năng phỏng vấn... của Tổ khảo sát, không thể thu thập đủ 30 người bệnh; các Tổ có thể giảm số lượng người bệnh nội trú và ngoại trú cần khảo sát. Tổ trưởng và thư ký Tổ khảo sát chịu trách nhiệm quyết định số lượng người bệnh nhưng không thấp hơn 10 người bệnh nội trú và 10 người bệnh ngoại trú và cần nêu rõ lý do không thu thập đủ 30 phiếu.

Tùy theo tình hình thực tế, Tổ khảo sát căn cứ trên nhân lực của Tổ để chọn người bệnh ngoại trú theo phương án số phiếu đăng ký khám hoặc tên chữ cái như phương pháp chọn mẫu do bệnh viện tự khảo sát. Việc chọn mẫu cần bảo đảm nguyên tắc chọn số hoặc chọn tên người phỏng vấn (dựa trên sổ đăng ký khám) trước khi gặp người cần phỏng vấn. Tổ cần chọn đủ 30 người và dự phòng thêm ít nhất 10 người. Điều tra viên cần tránh tình trạng đi thẳng ra khu khám bệnh và xem người bệnh nào "có vẻ" hợp tác tốt hoặc "có vẻ" có nhiều "bức xúc" để phỏng vấn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả và đưa ra nhận định không phù hợp với thực tế.

6. Phương pháp chọn mẫu

6.1. Đối với khảo sát người bệnh ngoại trú:

Chọn mẫu ngẫu nhiên: chọn ngẫu nhiên người bệnh theo số phiếu đăng ký khám, căn cứ trên số lượt khám trung bình trong ngày để chọn hệ số k cho phù hợp.

Ví dụ bệnh viện khám 1000 lượt/ngày, số phiếu cần khảo sát trong 1 ngày là 100, vậy hệ số k = 10. Đội khảo sát chọn mẫu cách nhau 10 người, lấy toàn bộ những người bệnh có đuôi là số 1, ví dụ 11, 21, 31, 41…

Nếu bệnh viện khám 1000 lượt/ngày nhưng nhân lực khảo sát hạn chế, mỗi ngày chỉ khảo sát 20 phiếu ngoại trú thì hệ số k = 50, cách 50 người chọn một người, các số khám được chọn là 0050, 0100, 0150, 350, 500…

Việc chọn hệ số k do Tổ khảo sát tự quyết định, nhưng cần bảo đảm số người bệnh ngoại trú có đại diện những người đăng ký khám đầu tiên cho đến những người đăng ký cuối cùng trong ngày vì mức độ hài lòng của những người đến đăng ký khám sớm so với người đăng ký khám muộn có thể có nhiều khác biệt.

Tổ khảo sát có thể tự chọn phương án chọn mẫu khác, nhưng cần chứng minh tính ngẫu nhiên và đại diện khi chọn người khảo sát.

Thời gian khảo sát cho việc người bệnh tự điền phiếu có thể phát phiếu cho người bệnh đồng thời ngay từ khi phát số khám bệnh và trước khi ra viện người bệnh nộp lại phiếu trực tiếp cho điều tra viên hoặc bỏ phiếu vào thùng phiếu.

Nếu Tổ khảo sát tiến hành phỏng vấn trực tiếp người bệnh, cần thực hiện sau khi người bệnh nhận thuốc tại nhà thuốc, hoặc nếu không mua thuốc thì sau khi thực hiện xong toàn bộ quy trình khám trước khi ra viện.

6.2. Khảo sát người bệnh nội trú:

- Đối với bệnh viện có lượng người bệnh nội trú trên 1000 lượt/ngày:

Chọn tối thiểu 3 khoa lâm sàng, trong đó có 1 khoa có công suất sử dụng giường bệnh cao, 1 khoa trung bình và 1 khoa thấp.

Trong mỗi khoa, chọn người bệnh theo phương pháp như sau:

  • Lấy danh sách người bệnh (bằng phần mềm hoặc bằng sổ).
  • Chọn tên người bệnh theo chữ cái đầu của tên. Trong 1 ngày có thể chọn 1, 2, 3... chữ cái tùy số lượng người bệnh nằm điều trị, nhưng cần bảo đảm toàn bộ người bệnh có cùng chữ cái đầu của tên đều được được vào danh sách. Ví dụ trong 1 ngày khảo sát chọn chữ cái H cần bảo đảm toàn bộ người bệnh có tên Hà, Hạnh, Hân, Hùng, Hoàng... đều được đưa vào danh sách.
  • Trong danh sách đã lập, chọn người bệnh chuẩn bị xuất viện trong 1, 2 ngày tới (trường hợp không đủ số lượng người bệnh có thể lấy thêm những người đã nằm điều trị từ ít nhất 3 ngày trở lên); loại những người mới nằm viện 1, 2 ngày, những người không thể trả lời.
  • Tiến hành khảo sát cho đủ 30 người bệnh, có thể mỗi khoa khảo sát 10 người bệnh nội trú.

- Đối với bệnh viện có lượng người bệnh nội trú dưới 1000 lượt/ngày, chọn mẫu tương tự cho đủ 30 người bệnh.

- Đối với bệnh viện có lượng người bệnh nội trú dưới 30 lượt/ngày, chọn mẫu toàn người bệnh nội trú đã và đang nằm điều trị từ 2 ngày trở lên.

7. Thu thập số liệu

- Khảo sát viên: Sở Y tế thành lập 21 Tổ khảo sát, bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế từ các Bệnh viện trực thuộc Sở và Bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố.  Các khảo sát viên được chọn là người đã nghiên cứu, nắm vững nội dung khảo sát sự hài lòng theo hướng dẫn của Bộ Y tế; có kinh nghiệm trong thu thập số liệu nghiên cứu.

- Giám sát viên: các cán bộ Sở Y tế.

- Các Tổ khảo sát tiến hành khảo sát theo lịch phân công của Sở Y tế.

- Đối với Tổ khảo sát:

          + Liên hệ với đầu mối Bệnh viện được khảo sát thống nhất các công việc thực hiện.

          + Liên hệ với phòng Nghiệp Vụ Y - Sở Y tế để nhận các Phiếu khảo sát.

          + Chọn mẫu khảo sát theo đúng quy định của Bộ Y tế.

          + Tiến hành khảo sát theo quy định (lưu ý: không mặc trang phục y tế hoặc đeo bảng tên khi thực hiện khảo sát).

          + Báo cáo kết quả thu thập số liệu về  phòng Nghiệp Vụ Y - Sở Y tế, bao gồm: Tất cả các Mẫu phiếu thu thập; Diễn giải cách chọn mẫu thực tế tại Bệnh viện khảo sát.

          + Trong quá trình thực hiện nếu gặp khó khăn, vướng mắc đề nghị liên hệ phòng Nghiệp Vụ Y - Sở Y tế , điện thoại: 3821.468.

- Đối với Bệnh viện được khảo sát: Cử Trưởng phòng Quản lý chất lượng/Tổ trưởng Tổ Quản lý chất lượng làm đầu mối, phối hợp với Tổ khảo sát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

8. Nhập số liệu, xử lý, phân tích số liệu

- Số liệu được làm sạch và nhập bởi các cán bộ Sở Y tế.

- Sử dụng phần mềm trực tuyến của Bộ Y tế để nhập và xử lý số liệu.

-  Phân tích kết quả khảo sát:

Cách tính điểm

  • Các lựa chọn của người bệnh từ 1 đến 5 được tính điểm tương ứng từ 1 đến 5.
  • Điểm trung bình của mỗi nhóm bằng tổng số điểm của nhóm trong tất cả các mẫu phiếu khảo sát.
  • Điểm trung bình chung bằng tổng số điểm của phiếu trong tất cả các mẫu phiếu khảo sát.

Chỉ số đánh giá hài lòng

  • Điểm hài lòng chung = tổng điểm/tổng số câu hỏi
  • Điểm hài lòng cho từng nhóm = tổng điểm từng nhóm/tổng số câu hỏi của mỗi nhóm.
  • Các chỉ số khác:
  • Tỷ lệ người bệnh hài lòng với từng vấn đề (bằng tổng số phiếu nhận xét điểm 4, 5 trên tổng số phiếu khảo sát).
  • Tỷ lệ đáp ứng so với mong đợi...

C. KẾT QUẢ KHẢO SÁT

1. Đặc điểm đối tượng được khảo sát

Bảng 1: Phân bổ đối tượng được khảo sát theo từng bệnh viện

TT

Đơn vị

Người bệnh nội trú

Người bệnh ngoại trú

Tổng

1

Bệnh viện Đà Nẵng

45

49

94

2

Bệnh viện Phụ sản Nhi

51

48

99

3

Bệnh viện Ung bướu

39

30

69

4

Bệnh viện Da liễu

30

29

59

5

Bệnh viện Phổi

31

27

58

6

Bệnh viện Y học cổ truyền

31

30

61

7

Bệnh viện Phục hồi chức năng

30

30

60

8

Bệnh viện Mắt

30

32

62

9

Trung tâm Y tế Hải Châu

41

29

70

10

Trung tâm Y tế Thanh Khê

40

31

71

11

Trung tâm Y tế Sơn Trà

40

30

70

12

Trung tâm Y tế Ngũ Hành Sơn

40

30

70

13

Trung tâm Y tế Cẩm Lệ

39

30

69

14

Trung tâm Y tế Liên Chiểu

40

31

71

15

Trung tâm Y tế Hòa Vang

40

30

70

16

Bệnh viện Hoàn Mỹ

42

30

72

17

Bệnh viện Tâm Trí

30

31

61

18

Bệnh viện Gia đình

30

30

60

19

Bệnh viện Bình dân

30

30

60

20

Bệnh viện Vĩnh Toàn

8

10

18

21

Bệnh viện Phụ nữ

30

30

60

 

Tổng

737

647

1384

 

Nhận xét: Tổng số đơn vị được khảo sát là 21 bệnh viện; hầu hết các bệnh viện khảo sát đạt số mẫu theo quy định; tại một số bệnh viện có mẫu khảo sát < 20 người do tại thời điểm khảo sát, số lượt bệnh nội trú và ngoại trú không đủ theo quy định.

Bảng 2: Đặc điểm của đối tượng được khảo sát

Đặc điểm

Nội trú

Ngoại trú

Tổng

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Giới tính

Nam

319

43,28

255

39,41

574

41,47

Nữ

418

56,72

392

60,59

810

58,53

Sử dụng BHYT

703

95,39

475

73,42

1178

85,12

Không

34

4,61

172

26,58

206

14,88

Đối tượng được khảo sát

Người bệnh

541

73,41

494

76,35

1035

74,78

Người nhà

196

26,59

153

23,65

349

25,22

          Nhận xét: Phần lớn người bệnh đến khám, điều trị tại các bệnh viện đều có sử dụng bảo hiểm y tế (chiếm 85,12%); Tỷ lệ người bệnh được khảo sát trực tiếp là 74,78%.

2. Kết quả khảo sát

2.1. Tỷ lệ hài lòng của người bệnh tại các bệnh viện

Nhận xét: Tỷ lệ hài lòng của người bệnh tại các bệnh viện là 92,56%, trong đó tỷ lệ hài lòng của người bệnh người bệnh nội trú là 94,85%, ngoại trú là 90,27%.

Bảng 3: Tỷ lệ hài lòng của người bệnh theo từng bệnh viện

TT

Đơn vị

Người bệnh nội trú

Người bệnh ngoại trú

Chung

1

Bệnh viện Đà Nẵng

95,76

92,47

94,12

2

Bệnh viện Phụ sản Nhi

97,04

89,52

93,28

3

Bệnh viện Ung bướu

96,77

92,83

94,80

4

Bệnh viện Da liễu

98,50

84,52

91,51

5

Bệnh viện Phổi

95,39

94,11

94,75

6

Bệnh viện Y học cổ truyền

97,77

85,97

91,87

7

Bệnh viện Phục hồi chức năng

89,60

88,47

89,04

8

Bệnh viện Mắt

96,40

87,38

91,89

9

Trung tâm Y tế Hải Châu

95,61

94,10

94,86

10

Trung tâm Y tế Thanh Khê

96,70

95,94

96,32

11

Trung tâm Y tế Sơn Trà

97,50

92,90

95,20

12

Trung tâm Y tế Ngũ Hành Sơn

89,38

85,33

87,36

13

Trung tâm Y tế Cẩm Lệ

96,56

96,87

96,72

14

Trung tâm Y tế Liên Chiểu

95,23

84,55

89,89

15

Trung tâm Y tế Hòa Vang

93,70

91,17

92,44

16

Bệnh viện Hoàn Mỹ

93,00

81,00

87,00

17

Bệnh viện Tâm Trí

91,80

89,19

90,50

18

Bệnh viện Gia đình

94,17

85,17

89,67

19

Bệnh viện Bình dân

94,00

95,27

94,64

20

Bệnh viện Vĩnh Toàn

93,75

96,50

95,13

21

Bệnh viện Phụ nữ

93,14

92,50

92,82

 

Toàn ngành

94,85

90,27

92,56

 

Nhận xét: Điểm trung bình mức độ hài lòng tại các phần đều > 4 điểm; trong đó, hài lòng về thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của NVYT là cao nhất (nội trú: 4,78 điểm; ngoại trú: 4,55 điểm) và thấp nhất là hài lòng về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ người bệnh (đối với người bệnh nội trú: 4,62 điểm), hài lòng về khả năng tiếp cận (đối với người bệnh ngoại trú: 4,37 điểm).

2.2. Một số ý kiến phản ánh, góp ý của người bệnh

Thủ tục nhập viện, xuất viện rườm rà, đề nghị nghiên cứu rút ngắn. Bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân gửi xe quên khóa thì ra phải gửi tiền cho người giữ xe thì mới được lấy xe. Nên tạo điều kiện cho bệnh nhân không nằm chung (Người bệnh nội trú, BV Đà Nẵng)

Lưu ý thêm chỗ gửi xe. Phải có sơ đồ chung của Bệnh viện phía trước; cơ sở khang trang hơn; thang máy chật và hỏng chưa được sửa chữa. Chờ xét nghiệm lâu. Có ti vi nhưng không mở. Nhà giữa xe phức tạp, nhân viên giữ xe hơi lớn tiếng (Người bệnh ngoại trú, BV Đà Nẵng)

 Trang bị thêm phòng yêu cầu vì đây là nhu cầu chính đáng. Máy lạnh chưa được đạt yêu cầu lắm (Người bệnh nội trú, BV Phụ sản Nhi)

Có bình nước nhưng không có ly. Nhà vệ sinh cần dọn dẹp sạch sẽ hơn. Bãi gửi xe chật, cần được cải thiện. Cải thiện chất lượng nơi gửi xe (Người bệnh ngoại trú, BV Phụ sản Nhi)

Trong phòng bệnh chưa có nhà vệ sinh riêng, bất tiện. Phân luồng phát thức ăn ở bếp ăn từ thiện chưa hợp lý. Công tác phục vụ tận tình, chu đáo. Nên tiếp tục phát huy, mở rộng phòng nhận bệnh vì thấy số bệnh nhân ngày càng đông. Điều trị chất lượng, phục vụ tốt, cần điều chỉnh thời gian ra viện và nhận thuốc trong ngày để bệnh nhân ở xa thuận tiện đi lại (Người bệnh nội trú, BV Ung bướu)

Nên trồng thêm nhiều cây xanh. Nên trồng hoa vào những bồn hoa còn trống để tạo cảm giác vui vẻ cho bệnh nhân. Mực in hóa đơn còn mờ (Người bệnh ngoại trú, BV Ung bướu)

Hộ lý lau chùi phòng bôi thuốc, hành lang và phía sau tolet chưa được sạch (Người bệnh nội trú, BV Da liễu)

Thời gian chờ kết quả xét nghiệm lâu. Chờ khám quá lâu (Người bệnh ngoại trú, BV Da liễu)

Giờ làm việc trễ so với quy định. Nhà vệ sinh quá hôi. Sửa chữa khu nhà vệ sinh, phòng bệnh nhân và vệ sinh hằng ngày (Người bệnh ngoại trú, BV Mắt)

Đề nghị bệnh viện cho ánh sáng để sáng lối đi lại. Căng tin nên phát triển hơn để thuận tiện trong việc chăm sóc bệnh nhân (Người bệnh nội trú, BV Phổi)

Đề nghị có tivi để bệnh nhân xem giải trí, mạng wifi chưa được tốt (Người bệnh ngoại trú, BV Phổi)

Nên tạo điều kiện cho các bệnh nhân nội trú có lịch học thuận lợi vì hầu hết các cháu ở xa. Cung cấp thuốc hoặc bán thuốc để việc điều trị thuận lợi hơn. Phát thuốc đúng giờ hơn. (Người bệnh nội trú, BV Phục hồi chức năng)

Mong bệnh viện quan tâm hơn về khoa ngôn ngữ trị liệu. Cần có phòng cách âm cho bệnh nhân trong thời gian điều trị. Mong bệnh viện có thêm trang thiết bị hiện đại hơn. Nhà giữ xe hết chỗ, không có chỗ để người nhà giữ xe phải để ngoài sân và hành lang hai bên, mỗi lần mưa to thì có nước sẽ gây trơn trượt và té. Phòng chờ không có chỗ cho bé chơi an toàn và cầu thang không có chỗ che chắn dễ gây tai nạn. Nên có tấm che chắn lên xuống cầu thang để tránh cho bé té ngã. Cần tăng cường dạy thêm cho các cháu và quan tâm dạy các cháu nhiều hơn (Người bệnh ngoại trú, BV Phục hồi chức năng)

Vật tư y tế như đèn chiếu còn hạn chế (Người bệnh nội trú, BV Y học cổ truyền)

Tại khoa Quốc tế - BV Hoàn Mỹ, khâu tiếp nhận bệnh nhân lâu, nhiều thủ tục, phải chờ đợi lâu do thiếu bác sĩ hoặc bác sĩ từ khoa khác sang tiếp nhận; chi phí dịch phụ khá cao (Người bệnh nội trú, BV Hoàn Mỹ)

Khu chờ nhận thuốc lâu. Lối đi cầu thang bộ nhỏ. Bác sĩ cần tư vấn rõ ràng hơn cho bệnh nhân (Người bệnh ngoại trú, BV Hoàn Mỹ)

Bệnh viện cần có ti vi để người bệnh xem tin tức. Mua sắm thêm các trang thiết bị y tế kỹ thuật cao để khám chữa bệnh cho bệnh nhân. Căng tin và nhà ăn cách biệt, gây trở ngại khi đi lại cho bệnh nhân (Người bệnh nội trú, TTYT Hòa Vang)

Cần tăng cường thêm bác sĩ giỏi, máy móc hiện đại hơn. Mở rộng mái che nhà giữ xe (Người bệnh ngoại trú, TTYT Hòa Vang)

Cần đầu tư máy móc, thiết bị y tế hiện đại để y bác sĩ tập huấn nâng cao trình độ (Người bệnh nội trú, TTYT Cẩm Lệ)

Mong muốn nhà xe rộng hơn. Áo quần cho bệnh nhân chưa được đẹp, màu tối (Người bệnh nội trú, TTYT Hải Châu)

Đường lên khu khám bệnh cao, dốc, khó đi lại đối với người già (Người bệnh ngoại trú, TTYT Hải Châu)

Thời gian chờ đợi thủ tục khám quá lâu. Khu vệ sinh của người bệnh chưa sạch sẽ. Mong muốn khi khám, bác sĩ nhiệt tình, tận tụy hơn và thuốc BHYT được đảm bảo hơn (Người bệnh ngoại trú, TTYT Liên Chiểu)

Trang bị thêm trang thiết bị hiện đại. Giảm bớt thời gian chờ đợi của người bệnh khi đến khám. Thái độ nhân viên tại khu khám bệnh (BS Tai mũi họng) hay nạt bệnh nhân (Người bệnh ngoại trú, TTYT Ngũ Hành Sơn)

Phòng vệ sinh chưa sạch. Mong muốn khi yêu cầu chuyển viện thì bệnh viện giải quyết nhanh chóng hơn (Người bệnh nội trú, TTYT Sơn Trà)

Cần cải thiện về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị. Cải tiến các quy trình khám bệnh (Người bệnh nội trú, TTYT Thanh Khê)

D. KẾT LUẬN

          Tỷ lệ hài lòng chung của người bệnh tại các bệnh viện là 92,56%; trong đó tỷ lệ hài lòng của người bệnh người bệnh nội trú là 94,85% (điểm trung bình chung là 4,70), ngoại trú là 90,27% (điểm trung bình chung là 4,43).

          Kết quả khảo sát của Sở Y tế có cao hơn so với kết quả điều tra của Trung tâm Dịch vụ công TP Đà Nẵng. Điều này có thể giải thích là do nội dung bộ công cụ khảo sát khác nhau và cỡ mẫu khảo sát chưa mang tính đại diện đối với những bệnh viện có lượt khám bệnh, chữa bệnh đông.

          Mức độ hài lòng của người bệnh nội trú tại các phần A (khả năng tiếp cận), B (sự minh bạch trong thông tin và thủ tục KCB), D (Thái độ ứng xử và năng lực chuyên môn của NVYT), E (Kết quả cung cấp dịch vụ) tương đối đồng đều. Riêng mức độ hài lòng về cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh có thấp hơn.

Xuân Trường

In Quay lại chia sẻ bài viết

Các tin khác

Bệnh viện Đà Nẵng thông báo thời gian tổ chức phỏng vấn tuyển dụng họp đồng lao động năm 2018

Thực hiện nghiêm túc việc công bố đủ điều kiện cung cấp dịch vụ diệt côn trùng, diệt khuẩn

Trung tâm Y tế quận Cẩm Lệ tuyển dụng viện chức năm 2018

Trung tâm Y tế quận Sơn Trà tuyển dụng viên chức năm 2018

Danh sách tổ chức công bố đủ điều kiện quan trắc môi trường lao động

Thông báo: Bệnh viện Đà Nẵng tuyển dụng hợp đồng lao động năm 2018

Thông báo: TTYT quận Thanh Khê tuyển dụng viên chức năm 2018

Thông báo: TTYT Hòa Vang tuyển dụng viên chức năm 2018

Công cố đủ điều kiện điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện

Công cố đủ điều kiện điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện

1 2 9 1 3 0 7 8
Hôm nay: 3554
Tháng này: 73260
Tổng cộng: 12913078